Vì vậy, Bộ hải quân Anh ra lệnh cho Hải đội Tàu chiến-tuần dương 1 dưới quyền Đô đốc David Beatty, sáu thiết giáp hạm thuộc Hải đội Chiến trận 2 cùng nhiều tàu tuần dương và tàu khu trục ngăn chặn các tàu chiến-tuần dương Đức.
Sau ba ngày, các bãi mìn Nga được dọn sạch, và chi hạm đội tiến vào vịnh vào ngày 19 tháng 8; nhưng những báo cáo về hoạt động của tàu ngầm Đồng Minh trong khu vực đã buộc lực lượng Đức phải rút lui khỏi vịnh vào ngày hôm sau.
Helgoland và các tàu chị em được rút khỏi Đăng bạ Hải quân Đức vào ngày 5 tháng 11 năm 1919.
Trong phần lớn thời gian của trận chiến, Hải đội Chiến trận 1 hình thành nên phần trung tâm của hàng chiến trận Đức, phía sau Hải đội Chiến trận 3 dưới quyền Chuẩn Đô đốc Behncke, và được tiếp nối bởi các thiết giáp hạm tiền-dreadnought cũ thuộc Hải đội Chiến trận 2 dưới quyền Chuẩn Đô đốc Mauve.
Helgoland cùng ba chiếc tàu chị em và bốn chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nassau được phân về một lực lượng đặc nhiệm để bảo vệ cho chuyến xâm nhập vịnh Riga vào tháng 8 năm 1915.
Dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hải quân von Kameke, Helgoland tham gia trận Jutland cùng với các tàu chị em trong thành phần Hải đội Chiến trận 1.
Lúc 04 giờ 30 phút, Helgoland được lệnh cùng Ostfriesland rời cảng; đến 05 giờ 00, hai chiếc thiết giáp hạm gặp gỡ các tàu tuần dương bị hư hại Frauenlob và Stettin.
Vào lúc này của cuộc chạn trán đầu tiên, các thiết giáp hạm lớp Helgoland ở một vị trí cách các thiết giáp hạm dreadnought Anh không đầy 10 hải lý (19 km), hoàn toàn nằm trong tầm bắn; nhưng trong bóng đêm, các đô đốc của cả Anh lẫn Đức đều không thể nhận biết thành phần của hạm đội đối phương.
Helgoland và ba con tàu chị em được dự định để tham gia hoạt động cuối cùng của hạm đội nhiều ngày trước khi Hiệp định Đình chiến với Đức có hiệu lực.
Helgoland được chính thức giao cho Anh Quốc vào ngày 5 tháng 8 năm 1920; nó bị tháo dỡ tại Morecambe, công việc được bắt đầu vào ngày 3 tháng 3 năm 1921.
